Tin tức Phật Giáo

VOA News

Tin tức Danmark

Tin mới nhất

Thông Tin
Y Học : Dịch Cân Kinh Tổng Hợp PDF In Thư điện tử
Tác giả minhthien   
07:20, 23/06/2017
Y Học : Dịch Cân Kinh Tổng Hợp
 


 
Hình Internet
 
 
Dịch Cân Kinh (phiên âm “Yin Jin Ching”) là gì ? Dịch là thay
 
đổi, Cân là gân cốt, Kinh là bài học quí giá. 
 
 
Dịch Cân Kinh chỉ cho ta phương pháp luyện tập gân cốt và ý
 
chí chuyển yếu thành mạnh, là phương pháp kết hợp nguyên
 
tắc Thiền và động tác (Động và Tỉnh), giữa Cương và Nhu, giữa
 
Thần và Khí (Tâm và Hơi thở), giữa Khí và Lực (Hơi thở và Sức
 
mạnh).
 
 
  Năm 917 (sau Tây lịch), Đạt Ma Tổ Sư Ấn Độ sang Trung Quốc
 
thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại Trung Sơn, Hà Nam, xây
 
dựng chùa Thiếu Lâm, đã có nhiều đệ tử nhập môn học Phật để
 
mai sau đi truyền giáo. Ông nhận thấy nay đem một tín ngưỡng
 
đi truyền tụng có khi trái với tín ngưỡng của dân bản xứ, dễ xảy
 
ra xung đột. Do vậy các đệ tử của ông vừa lo học lý thuyết Phật
 
Pháp vừa phải luyện võ để tự vệ (Môn phái Thiếu Lâm xuất hiện
 
và tồn tại đến ngày nay).
 
 
 
 
Nhiều người xin nhập môn nhưng thể lực kém, không thể luyện
 
võ được, Tổ Sư bèn truyền đạt một phương pháp luyện tập
 
được gọi là Đạt Ma Dịch Cân Kinh để chuyển biến thể lực yếu
 
kém thành mạnh khỏe. Cách tập đơn giản nhưng hiệu quả to
 
lớn vì tiêu trừ được các bịnh tật hiểm nghèo.
 
 
Ngày nay người ta nghiên cứu là phương pháp này chữa được
 
rất nhiều bịnh, ngay cả bịnh ung thư, tiểu đường cũng khỏi và
 
bây giờ người ta áp dụng lý thuyết khí huyết của Đông y để
 
chứng minh. Sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ với khí
 
huyết, về điều này thì ta thấy rõ ràng.
 
 
 
Trong Đông y, cái gọi là huyết thì không thể hạn chế và tách ra
 
từng mặt như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố
 
như thế nào… mà nghiên cứu, mà dùng cách nhìn nhận toàn
 
diện của quá trình sinh lý và quá trình tuần hoàn của huyết mà
 
xem xét. Theo Đông y, một khi khí huyết không thông là tắt
 
kinh lạc, do vậy các phế vật trong cơ thể cần thải mà không thải
 
ra được. Vì máu lưu thông chậm, nên các chất keo, dịch, gân và
 
các chất khô… không đủ nhiệt năng nên công năng của máu
 
giảm sút không thể thải được những chất cần thiết trong cơ thể
 
ra ngoài.
 
 
Luyện Dịch Cân Kinh, tay vẫy đúng phép, miệng, dạ dày mở,
 
máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ, làm các vật chèn ép mất
 
thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ thì mới khỏi bịnh.
 
 
  Vậy theo Dịch Cân Kinh, cơ hoành lên xuống dễ dàng, ruột, dạ
 
dày, thận tiếp được khí nên gây được tác dụng hưng phấn. Khi
 
chức năng của máu tăng, thì giúp được việc tống cựu nghinh
 
tân tốt, khí huyết thăng bằng là khỏi bịnh. Một số người sau đây
 
đã luyện tập Dịch Cân Kinh có hiệu quả:
 
 
  Cụ Quách Chu, 78 tuổi, phát hiện u ở não và ở phổi. Luyện tập
 
ngày ba buổi. Mỗi buổi 1800 lần. Tập đều sau ba tháng thì tan
 
khối u và khỏi bịnh.
 
 
  Ông Trương Công Phát,43 tuổi, phát giác ung thư máu, luyện
 
tập Dịch Cân Kinh ngày 3 buổi, mỗi buổi 4800 lần (có dùng
 
dưỡng tâm can), sau ba tháng khỏi bịnh. Đã ba năm nay vẫn
 
khỏe mạnh.
 
 
  Cụ Từ Mạc Đính, 60 tuổi, ung thư phổi, và bán thân bất toại.
 
Luyện tập sau 3 tháng thì hết bán thân bất toại, kiểm tra khối u
 
cũng tan mất.
 
 
Nguyên nhân bịnh ung thư trên thế giới đang bàn cãi, ngay
 
thuốc dưỡng tâm can cũng không phải là thuốc đặc hiệu chữa
 
trị mà là giúp tim hoạt động tốt để thải chất độc.
 
 
  Vì quá trình sinh lý cơ thể của con người là một quá trình phát
 
triển, nó mang một nội dung đấu tranh rất phức tạp giữa cái
 
sống và sự chết. giữa lành mạnh và bịnh tật, giữa già háp và trẻ
 
dai. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh là các nhân tố nội tại quyết
 
định chớ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.
 
 
   Vậy cơ thể con người là một chỉnh thể hoạt động. Trong vận
 
động các lục phủ ngũ tạng đều dựa vào nhau tức là tương sinh,
 
ức chế lẫn nhau tức là tương khắc. Nhưng khí huyết có tác dụng
 
đến khắp tất cả các lục phủ ngũ tạng, cho nên việc phát sinh
 
bịnh ung thư cũng do khí huyết lưu thông không chu đáo mà ra.
 
Đông y đã xác định là cuộc đấu tranh của cơ thể với bịnh ung
 
thư là một cuộc đấu tranh nội bộ ở trong cơ thể con người. Từ
 
đó mà xây dựng quan điểm cho rằng bịnh ung thư là bịnh chữa
 
được.
 
 
   Đương nhiên bịnh tật là do sự trì trệ khí huyết mà nó làm cho
 
hao tổn thêm khí huyết. Vậy công việc luyện tập cho khí huyết
 
thay đổi là tự chữa được bịnh. Từ đó mà tạo được lòng tin vững
 
chắc của người bịnh đối với việc tự chữa được bịnh ung thư, để
 
tập trung tinh thần và ý chí đầy đủ để luyện tập Đạt Ma Dịch
 
Cân Kinh, vì phương pháp này thay đổi và tăng cường khí
 
huyết. Nó cũng chữa được bịnh trĩ nội và trĩ ngoại. Ông Hà Thúc
 
Nguyên bị trĩ nội và chứng đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi.
 
Luyện tập Dịch Cân Kinh thấy ăn tốt ngủ ngon là việc phổ biến
 
tốt, đã làm tăng sức khỏe các bịnh nhân nói chung và chữa
 
được nhiều chứng bịnh như : suy nhược thần kinh, cao huyết
 
áp, bịnh tim các loại, bán thân bất toại, bịnh thận, hen suyễn,
 
lao phổi, trúng gió méo mồm và lệch mắt.
 
 
   Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của bịnh tật là do khí huyết
 
(âm, dương) mất thăng bằng mà sanh ra. Luyện Dịch Cân Kinh
 
là giải quyết vấn đề này. Nên đối với đa số các loại bịnh, nhất là
 
bịnh mãn tính đều có thể chữa được cả.
 
 
Phương Pháp Luyện Tập Dịch Cân Kinh
 
Đầu tiên là nói về tư tưởng:
 
 
Phải có hào khí, nghĩa là có quyết tâm luyện tập cho đến nơi
 
đến chốn, vững vàng, tin tưởng, không vì lời bàn ra tán vào mà
 
chán nản bỏ dở.
 
 
Phải lạc quan, không lo sợ đang mang bịnh mà mọi người gọi là
 
hiểm nghèo, phải tin tưởng rằng mình sẽ thắng bịnh do việc
 
luyện tập Dịch Cân Kinh.
 
 
1. Tư Thế Luyện Tập:Đầu treo lơ lửng, miệng không hoạt động,
 
bụng phải mềm, lưng thẳng, thắt lưng mềm dẻo, hai cánh tay
 
phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay mềm, hai bàn tay ngửa
 
ra phía sau xòe ra như cái quạt. Trong khi vẫy, hậu môn phải
 
thót, gót chân lỏng, bàn chân phải cứng, các ngón chân bám
 
chặt như bám trên đất trơn. Đây là những quy định cụ thể của
 
các yêu cầu cơ bản khi tập luyện Dịch Cân Kinh.
 
 
2. Dựa theo yêu cầu này,khi tập vẫy tay thì cơ hoành trở lên
 
phải giữ cho được trống không, buông lỏng, thảnh thơi, đầu
 
không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc luyện tập. Xương
 
cổ buông lỏng để có cảm giác như đầu treo lơ lửng, mồm giữ tự
 
nhiên, không mím môi, ngực trên buông lỏng để phổi tự nhiên.
 
Hai cánh tay để tự nhiên giống như hai mái chèo gắn vào vai.
 
Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc đủ sức căng, bụng
 
dưới thót vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám sát mặt
 
đất, gót chân để phẳng lên mặt đất. Bắp chân trong trạng thái
 
căng thẳng, xương sống thẳng như cây gỗ. Khi vẫy tay nhớ
 
nhẩm câu: “Lên có xuống không”. Nghĩa là lấy sức vẫy tay về
 
phía sau, khi tay trả lại phía trước là do quán tính, không dùng
 
sức đưa tay ra phía trước (xuống).
 
 
3. Trên ba dưới bảy:Là phần trên để lỏng độ ba phần khí lực,
 
phần dưới lấy gân sức độ bảy phần khí lực. Vấn đề này quán
 
triệt đầy đủ thì hiệu quả sẽ tốt.
 
 
4. Mắt nhìn thẳng:không nghĩ ngợi gì cả, miệng nhẩm đếm số
 
lần vẫy.
 
 
Các bước tập cụ thể như sau :
 
a) Đứng hai bàn chân bằng khoảng cách hai vai.
 
b) Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, các ngón tay xòe thẳng,
 
lòng bàn tay quay ra phía sau.
 
c) Bụng dưới thót lại, lưng thẳng. Bụng trên co lại, cổ để lỏng,
 
đầu và miệng bình thường.
 
d) Các đầu ngón chân bám trên mặt đất, gót sát đất, bắp chân
 
và đùi chân căng thẳng.
 
e) Hai mắt chọn một điểm ở đàng xa làm mục tiêu để nhìn,
 
không nghĩ ngợi lung tung, luôn chú ý vào các ngón chân đang
 
bám đất. Đùi và bắp chân cứng. Thót hậu môn thật chặt và
 
nhẩm đếm.
 
f) Dùng sức vẫy hai tay về phía sau, khi trả hai bàn tay về phía
 
trước, chú ý để nó buông theo quán tính, tuyệt đối không dùng
 
sức. Tuy nhiên chân vẫn lấy gân cứng lên, hậu môn vẫn thót và
 
co lại không lơi lả.
 
g) Vẫy tay từ 200, 300, 400, 500, 600, 700 lần, dần dần tăng
 
lên đến 1800 lần vẫy (tương đương với 30 phút).
 
h) Phải có quyết tâm đều đặn tập trung vào sự luyện tập, không
 
nên nóng, tập nhanh, tập nhiều vì dục tốc bất đạt. Nhưng cũng
 
không nên tùy tiện, bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì
 
như vậy sẽ làm mất lòng tin trong sự luyện tập, khó có hiệu
 
quả.
 

Bắt đầu tập luyện, không nên làm tổn thương các ngón chân
 
(Sau mỗi buổi tập, vuốt ve các ngón chân mỗi ngón chín lần).
 
Nôn nóng muốn khỏi bịnh này mà dùng nhiều sức sẽ không
 
đem lại kết quả. Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến dần mới
 
đúng cách và kết quả tốt. Nếu tinh thần không tập trung, tư
 
tưởng phân tán thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên
 
nặng dưới nhẹ” là sai hỏng.
 
 
   Khi đã vẫy tay đến 600 lần trở lên thì thường hay có trung
 
tiện (đánh địt), hắt hơi và hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt
 
nóng bừng….. chỉ là hiện tượng bình thường, đừng lo ngại.
 
Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên
 
đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn
 
xuống cho hợp với vũ trụ là “Thiên khinh Địa trọng” (Trên nhẹ
 
dưới nặng), đấy là quy luật sinh hợp với vũ trụ: Thiên khinh Địa
 
trọng.
 
 
   Sở dĩ bịnh gan là do khí huyết của tạng gan không tốt gây
 
nên khi bị tích lũy làm cho gan khó bài tiết. Do đó ảnh hưởng
 
đến ống mật và cả tỳ vị. Luyện Dịch Cân Kinh có thể giải quyết
 
được vấn đề này, nếu sớm có trung tiện là kết quả tốt.
 
 
  Về bịnh mắt, luyện Dịch cân kinh là có thể khỏi chứng đau mắt
 
đỏ với các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí chữa
 
được cả chứng đục thủy tinh thể. Trong nội kinh có nói mắt nhờ
 
huyết mà nhìn được. Khi khí huyết không dẫn đến được các bộ
 
phận của mắt thì thường sinh ra các bệnh tật của mắt.
 
 
  Đôi mắt là bộ phận của thị giác và cũng là bộ phận quan trọng
 
của cơ thể.
 
 
Những Phản Ứng Khi Luyện Tập Dịch Cân Kinh
 
Khi luyện tập, cơ thể có những phản ứng nhưng tất cả đều là
 
hiện tượng thải bịnh, không nên lo nghĩ. Sau đây là 34 phản
 
ứng thông thường và còn nhiều phản ứng khác không kể ra hết
 
được.
 
 
1. Đau buốt, 2. Tê dại, 3. Lạnh, 4. Nóng, 5. Đầy Hơi, 6. Sưng
 
7. Ngứa, 8. Ứa nước giải, 9. Ra mồ hôi, 10. Cảm giác như kiến
 
 
11. Giật gân, giật thịt, 12. Đầu khớp xương có tiếng kêu lụp cụp
 
13. Cảm giác máu chảy dồn dập, 14. Lông tóc dựng đứng
 
15. Âm nang to lên, 16. Lưng đau, 17. Máy mắt mi giật
 
18. Đầu nặng, 19. Hơi thở nhiều, 20. Nấc, 21. Trung tiện
 
22. Gót chân nhức như mưng mủ, 23. Cáu trắng dưới lưỡi24.
 
Đau mỏi toàn thân, 25. Da cứng, da chân chai rụng đi,
 
26. Sắc mặt biến đi,27. Huyết áp biến đổi, 28. Đại tiện ra máu,
 
29. Tiểu tiện nhiều, 30. Nôn mửa, ho, 31. Bịnh từ trong da thịt
 
bài tiết ra,
 
32. Trên đỉnh đầu mọc mụt, 33. Ngứa từng chỗ hay toàn thân,
 
34. Chảy máu cam.
 
 
  Các phản ứng trên đây là do trọc khí bài tiết ra ngoài cơ thể,
 
loại trừ các thứ ứ đọng gọi là bịnh tật. Khi có sự phản ứng là có
 
sự xung đột giữa chánh khí và tà khí, nếu ta vẫn tập luyện sẽ
 
sản sinh ra các chất bồi bổ có lợi cho chánh khí. Ta tập đúng
 
cách và làm tăng sức đề kháng, nó đẩy cặn bã trong cơ, gan,
 
thần kinh và các tế bào khác mà mạch máu lưu thông bình
 
thường không thải nổi.
 
 
  Nhờ luyện tập Dịch Cân Kinh mà khí huyết lưu thông mới đưa
 
nổi cặn bã ra ngoài nên mới sinh ra phản ứng. Vậy không nên lo
 
sợ, cứ tiếp tục tập như thường. Có một phản ứng hiển nhiên là
 
đã khỏi một căn bịnh. Cứ tập luyện đều đặn sẽ đạt hiệu quả tốt.
 
 
 
Luyện tập dịch cân kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau
 
1-Nội trung:
 
Tức là nâng cao can khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ,
 
lưu thông khí huyết. Thông khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.
 
 
2-Tứ trưởng tố:
 
Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc
 
luyện tập. Tứ trung tố song song với nội trung sẽ làm cho tà khí
 
bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày
 
càng mạnh.
 
 
3-Ngũ tam phát:
 
Nghĩa là 5 trung tâm của nhiệt dưới đây hoạt động mạnh hơn
 
lúc bình thường. Đó là :
 
 
4-Bách Hội: Một huyệt trên đỉnh đầu,
 
Gio cung: huyệt ở hai bàn tay,
 
 
Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân.
 
 
Khi luyện tập thì 5 huyệt này đều có phản ứng và hoàn toàn
 
thông suốt . Nhâm đốc và 12 kinh mạch đều đạt tới hiệu quả,
 
nó làm tăng cường thân thể, tiêu trừ các bịnh nan y mà ta
 
không ngờ.
 
 
Lục phủ minh:
 
  Đó là ruột non. ruột già, mắt, dạ dày, bong bóng tam tiêu sẽ
 
thông suốt, nghĩa là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu
 
nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi nên không trì trệ,
 
ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình
 
thường của cơ thể tức là Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh
 
vượng.
 
 
Một số điều cần lưu ý khi luyện tập:
 
1. Số lần vẫy tay: không dưới 800 lần, từ 800 lần trở lên dần
 
dần đến 1800 lần (khoảng 30 phút) mới tới ngưỡng cửa của
 
điều trị. Người bịnh nặng có thể ngồi mà vẫy tay, tuy nhiên phải
 
nhớ thót hậu môn và bấm 10 đầu ngón chân.
 
 
2. Số buổi tập: Sáng thành tâm tập mạnh, Trưa trước khi ăn
 
tập vừa. Tối trước khi ngủ tập nhẹ.
 
 
3. Có thể tập nhiều tùy theo bịnh trạng: Có những bịnh
 
nhân nâng số lần vẫy tay lên đến 5 hay 6 ngàn lần trong mỗi
 
buổi tập. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon ngủ tốt, tiểu và đại tiện
 
thấy điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ số lần vẫy tay khi
 
luyện tập là thích hợp.
 
 
4. Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm. Bình
 
thường thì vẫy 1800 lần là hết 30 phút. Vẫy lúc sau hơi nhanh
 
hơn lúc đầu một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng. Bịnh nhẹ
 
thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều hơn. Bịnh nặng thì nên
 
vẫy hẹp vòng và chậm, bớt dùng sức. Vẫy tay nhanh quá làm
 
cho tim đập nhanh, mau mệt, mà chậm quá thì không đạt tới
 
mục đích. Vì luyện tập là cần có mạch máu lưu thông.
 
 
5. Khi vẫy tay dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ: Vẫy
 
tay là môn thể dục chữa bịnh chớ không phải là một môn thể
 
thao khác biệt. Đây là môn thể dục mềm dẻo, đặc điểm của nó
 
là dụng ý không dùng sức, nhưng nếu vẫy tay nhẹ quá cũng
 
không tốt, bởi vì bắp vai không lắc mạnh thì lưng và ngực
 
không chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm đi. Vẫy tay không
 
chỉ có chuyển động cánh tay mà chính yếu là chuyển động hai
 
bắp vai. Bịnh phong thấp thì nên dùng sức ở mức nặng một
 
chút. Bịnh huyết áp thì nên dùng sức ở mức nhẹ và vẫy tay
 
chậm.
 
 
Nói tóm lại phần lớn tự mình nắm vững tình trạng, phân tích các
 
triệu chứng sau khi nghe sự nhận xét của mọi người, tự mình
 
cảm nhận sự biến chuyển trong cơ thể: nhanh nhẹn, hồng hào,
 
tươi tỉnh hay là xấu hơn trước. Tự mình suy nghĩ rồi quyết định
 
cách tập trên nguyên tắc là tập thế nào cho cảm thấy thoải mái,
 
dễ chịu là đúng, là tốt nhất. Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ
 
ích (ích lợi cho cơ thể), còn động tác mạnh là loại bỏ các chất
 
cặn bã có hại cho cơ thể (bệnh tật). Lý luận này đang được
 
nghiên cứu.
 
 
Khi vẫy tay về phía sau dùng sức bảy phần. Khi vẫy tay về phía
 
trước thuộc về quán tính, còn chừng 5 phần.
 
 
Đếm số lần vẫy tay, đếm không phải để nhớ mà có tác dụng
 
làm cho đầu óc bình tỉnh, có tác dụng tốt cho não được căng
 
thẳng và không nghĩ ngợi lung tung. Chân âm được bồi dưỡng.
 
 
Hoàn cảnh khi luyện tập (nơi chốn): Không có khác biệt, ở nơi
 
đâu cũng tập được. Dĩ nhiên nơi nào không khí trong lành và
 
yên tĩnh vẫn tốt hơn.
 
 
Trước và sau khi tập: Trước khi tập, đứng bình tỉnh cho tim
 
được thoải mái, đầu óc được yên tĩnh để chuyển hóa về tâm lý
 
và sinh lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng, thoải mái
 
như trong môn khí công. Sau khi tập cũng phải bình tĩnh vê 10
 
đầu ngón tay và 10 đầu ngón chân đủ 9 lần. Người không đủ
 
bình tĩnh, nên cần chú ý đến điểm này,
 
 
Luyện tập Dịch Cân Kinh đúng phép: Sau khi tập thấy ngứa và
 
bụng nhẹ nhàng, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước giải ứa ra
 
nhiều, đại tiện dễ dàng, ăn ngon ngủ tốt, tinh thần tỉnh táo,
 
bệnh tật bớt dần, thì đó là đã luyện tập Dịch Cân Kinh đúng
 
phép. Sau khi luyện tập, đa số thấy có phản ứng, nhưng về hiệu
 
quả thì rất khác nhau. Nguyên nhân chính là khi tập, tư thế có
 
thích hợp với người tập hay không.
 
 
Khi tập cần chú ý các điểm sau đây:
 
 
 
- Nửa thân trên buông lỏng (thượng hư).
 
- Nửa thân dưới giữ chắc, căng mạnh (hạ thực),
 
- Khi tay trả về phía trước, không dùng sức (nhẹ),
 
- Tay vẫy về phía sau, dùng sức (nặng, mạnh),
 
- Mỗi lần tập tăng dần số lần vẫy tay.
 
Tập ngày 3 buổi, kiên quyết tự chữa bịnh cho mình.
 
1. Sự liên quan giữa tinh thần và hiệu quả khi tập luyện: Hết
 
lòng tin tưởng, kiên quyết tới cùng. Tập đủ số lần nhứt định,
 
tập thường xuyên thì hiệu quả rất tốt. Nếu khi tập khi nghỉ,
 
không đủ số lần tập nhất định, trong lòng còn nghi hoặc, bị
 
động theo dư luận, thấy phản ứng lo sợ vội bỏ tập thì nhất định
 
không hiệu quả.
 
 
2. Vẫy tay có sinh ra bệnh gì không ? Có thể sinh bịnh do tư thế
 
không đúng, làm sai nguyên tắc. Nhưng trong trường hợp này
 
cũng hãn hữu, không tới 1%.
 
 
3. Khi tập nên tránh đứng đầu ngọn gió cả mùa hè lẫn mùa
 
đông. Tóm lại cần lưu tâm những điểm sau:
 
 
Khi tập luôn bám chặt các ngón chân vào mặt đất.
 
Thót hoặc co hậu môn thật mạnh để giữ thế “thượng hư hạ
 
thật”.
 
 
Vẫy tay từ ít tới nhiều và phải đạt 1800 trở lên mới có hiệu quả.
 
 
Khi gặp phản ứng đừng ngại, đó là diễn biến tốt, cứ tập số lần
 
như cũ. Khi hết phản ứng sẽ tăng số lần vẫy tay lên.
 
 
Giữ vững lòng tin, kiên trì quyết tâm tin tưởng, tập luyện tới
 
cùng, chắc chắn sẽ đẩy lùi các bịnh tật ta đang mắc phải.
 
 
Luyện tập Dịch Cân Kinh không chỉ chữa khỏi bịnh mà còn là
 
một phương pháp phòng bịnh rất hữu hiệu.
 
 
 
 
 
« Bắt đầuTrước12345678910TiếpCuối »

Trang 2 / 5572